Bạn đánh giá: 5 / 5

Ngôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lực
 

Vậy La Vang là nơi nào? Trở về thời xa xưa, La Vang là nơi rừng núi hẻo lánh có nhiều cây "lá vằng", có thú dữ, nằm về phía Tây cách đồn Dinh Cát, về sau là tỉnh lỵ Quảng Trị, bốn cây số và cách Phú Xuân, tức Kinh Ðô Huế, 58 km về phía Bắc. Theo địa bộ của làng Cổ Vưu được lập đời nhà Lê và được quản tu lại đời Gia Long có ghi tên "phường Lá Vằng". Sở dĩ gọi vậy là vì nơi đáo có nhiều lá vằng, một loại cây mà người phụ nữ lúc sinh đẻ thường nấu nước, có vị đắng, để uống như một vị thuốc, rồi đọc trại ra là La Vang. Có người cho rằng gọi là La Vang vì ngày xưa nơi rừng rú có cọp, beo, thú dữ nên mỗi lần các toán người đi làm củi ngang qua phải la vang để thú dữ lẫn tránh.

Dở lại những trang sử đau thương của đất nước từ năm 1765-1801, nhận thấy trăm họ lầm than, dân tình khổ sở vì nạn đói kém, chiến tranh. Ðối với người Công Giáo lại còn bị bắt bớ, tù đày, giết chóc. Theo truyền thuyết thì Ðức Mẹ đã hiện ra tại La Vang trong thời gian đen tối đó, tuy không rõ năm nào, nhưng theo truyền khẩu, nhiều người cho rằng Ðức Mẹ đã hiện ra dưới thời vua Cảnh Thịnh triều Tây Sơn vào năm 1798.

Ngày 17-08-1798 vua Cảnh Thịnh, con của vua Quang Trung, ra sắc dụ cấm đạo từ Phú Xuân đến Bắc Hà, lệnh cho tiêu diệt đạo Giatô, là đạo ngoại quốc, phải triệt hạ các đạo đường, đạo quán và tróc nả các đạo trưởng. Ðể trốn tránh sự bắt đạo của quan quân Tây Sơn, giáo dân xứ Trí Bưu (Cổ Vưu), xứ Thạch Hản... đã trốn vào ẩn náu trong "phường Lá Vằng". Họ phá rừng làm rẫy, có người đã làm trại để giữ hoa màu. Và theo truyền thuyết, đêm đêm họ họp nhau đọc kinh lần chuỗi. Và bỗng nhiên vào một đêm, họ thấy một bà đẹp, tay bồng chú bé xuất hiện ở một cây đa cổ thụ, có hai vị cầm đèn chầu. Họ nhận ra đó là Ðức Mẹ bồng Chúa Hài Ðồng, có hai thiên thần chầu. Ðức Mẹ đã ngỏ lời an ủi họ, bảo họ hái lá cây xung quanh mà uống sẽ được lành bệnh và hứa rằng ai đến cầu khẩn tại chốn này Ngài sẽ ban ơn. Ðức Mẹ còn hiện ra nói với họ nhiều lần...

Dĩ nhiên, như trong bài diễn thuyết của Ðức cố Giám Mục Hồ Ngọc Cẩn nói về sự tích La Vang đã nêu lên vấn đề như sau: "Sự tích về La Vang chúng tôi có biết đặng ít nhiều thì bởi truyền khẩu chứ không bởi truyền thơ. Những điều truyền khẩu về Ðức Mẹ La Vang thật hư thế nào, mặc ai tự nghĩ. Chúng tôi chỉ luận chung rằng: có tích mới dịch ra tuồng. Nay việc La Vang đã ra như một việc lớn lao thế này, lẽ nào là một việc vô tông vô tích".

Năm 1802, Gia Long thống nhất sơn hà. Việc đạo tạm yên. Sự tích Ðức Mẹ hiện ra tại La Vang được truyền miệng khắp các xứ đạo vùng Dinh Cát. Người ta còn kể rằng người lương đi làm rú đến La Vang sau bị "động" nên rút lui, nhường lại cho giáo dân. Và do đó trước năm 1885, La Vang đã có một nhà thờ kính Ðức Mẹ

Từ đó, La Vang một danh từ bắt đầu quen thuộc và trìu mến của giáo dân giáo phận Huế, rồi nhanh chóng vang danh khắp Việt Nam. Không ai là Công Giáo trong toàn quốc mà không nghe nói đến Mẹ La Vang.

Năm 1886 Ðức Cha Gaspar (Lộc) cho xây đền thờ ngói, 15 năm mới hoàn thành, vì địa điểm núi non nên vận chuyển vật liệu khó khăn. Năm 1901, đại hội La Vang đầu tiên được tổ chức vào ngày 08-08 để mừng khánh thành nhà thờ. Dịp nầy, Ðức Cha Gaspar đã chọn bổn mạng cho thánh đường La Vang với tước hiệu: "Ðức Bà Phù Hộ Các Giáo Hữu" và đã quy định về các cuộc kiệu ở La Vang như sau: mỗi năm kiệu Ðức Mẹ một lần vào ngày mồng 3 tết nguyên đán gọi là kiệu minh niên và cứ ba năm mở đại hội ba ngày trong tuần lễ Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Tục lệ này vẫn được tôn trọng và thi hành cho đến ngày nay.

Năm 1924, Ðúc Cha Allys (Lý) cho phép Linh Mục Morineau (Cố Trung), cha sở họ Cổ Vưu (Trí Bưu) cất một ngôi thánh đường rộng lớn. Ngôi nhà thờ ấy còn cho đến năm 1972, rồi bị chiến tranh tàn phá.

Năm 1949-1954 giáo hữu La Vang tản cư ra thị xã Quảng Trị thì đồng bào ở vùng lân cận như Long Hưng, Phú Hưng lại đến quây quần chung quanh đền Ðức Mẹ.

Năm 1954 hiệp dịnh Gienève chia đôi đất nước, La Vang nằm về phía Nam vĩ tuyến 17. Cảnh hành hương bắt đầu nhộn nhịp... Nhiều người, nhiều đoàn thể từ Bến Hải đến Ca Mau thay phiên nhau đến kính viếng Ðức Mẹ.

Ngày 22-08-1961, Hội Ðồng Giám Mục miền Nam đã long trọng tuyên bố tại La Vang là chọn đền thờ Ðức Mẹ La Vang làm "đền thờ toàn quốc dâng kính Trái Tim Vô Nhiễm Ðức Mẹ" và nhận linh địa La Vang làm "Trung tâm Thánh Mẫu toàn quốc". Công trình xây dựng trung tâm bắt đầu trong năm 1962 đến năm 1964 với sự tích cực đóng góp của giáo dân khắp nơi. Cùng trong ngày 22-08-1961, ngày bế mạc đại hội, sắc Tòa Thánh Vatican nâng đền thờ Ðức Mẹ La Vang lên bậc Vương Cung Thánh Ðường đã được rước từ nhà thờ Trí Bưu vào theo nghi lễ đặc biệt Á Ðông.

Năm 1972, chiến tranh khốc liệt xảy ra ở Quảng Trị, La Vang bị tàn phá nặng nề. Bao công trình kiến tạo đều bị bom đạn san bằng, ngôi thánh đường còn một nữa phía sau, chỉ trừ ba cây đa nhân tạo nơi đài Mẹ, tục truyền là nơi Mẹ đã hiện ra là còn nguyên vẹn.

Mùa xuân 1974, Ðức Mẹ thánh du Ðạo Binh Xanh quốc tế tổ chức đã đến La Vang trong cảnh hoang tàn, nhưng rất đông con cái mẹ đến kinh viếng.

Năm 1993, đại hội lần thứ 23 diễn ra từ thứ năm 12 tháng 8 đến 15-08-1993.  Ngày bế mạc có hàng ngàn con Mẹ từ Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Tĩnh, Sài Gòn, Ðà Lạt, Gia Lai, Kontum, Ðà Nẵng cùng với giáo dân Huế cung nghinh Mẹ

Ngày nay, La Vang là điểm hành hương quan trọng của người công giáo.